Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2015

Các kỹ thuật trồng thủy canh

Theo TS. Lê Quang Luân (trưởng phòng sinh học - Trung tâm hạt nhân TP.HCM), hiện nay có rất nhiều kỹ thuật thủy canh thông dụng được ứng dụng trong thực tế:

Kỹ thuật màng mỏng dinh dưỡng (h.1): rễ cây được tiếp xúc trực tiếp với chất dinh dưỡng. Màng mỏng (0,5 mm) cho dinh dưỡng chảy xuyên qua các kênh dẫn được làm bằng vật liệu dẻo. Hạt giống cùng với môi trường phát triển được đặt ở trung tâm của ống. Ở mép của hạt giống được kẹp vào màng mỏng để ngăn cản sự bốc hơi và ngăn không cho ánh sáng lọt qua. Môi trường cần cho sự phát triển hấp thu chất dinh dưỡng cung cấp cho cây với tốc độ dòng chảy của dung dịch dinh dưỡng khoảng 2 - 3 lít/phút và chảy dọc suốt chiều dài của kênh dẫn.
Kỹ thuật dòng sâu (h.2): ở độ sâu 2 - 3 cm, dung dịch dinh dưỡng chảy xuyên qua ống nhựa đến những túi lưới nhựa có chứa cây được gắn vào trong ống. Túi nhựa chứa vật liệu trồng cây và phần dưới cùng của chúng tiếp xúc với dịch dinh dưỡng chảy vào ống. Các ống nhựa được sắp xếp trên mặt phẳng ngang hoặc theo chiều đứng dạng zigzag.

Kỹ thuật ngâm rễ (hay còn gọi là nuôi cấy tĩnh) (h.3, 4): túi nhựa được đặt ở vị trí khoảng 3 cm, phần đáy của túi nhựa ngập trong dung dịch dinh dưỡng. Một số rễ được ngâm trong dung dịch dinh dưỡng và một số ít sẽ được treo ở khoảng không khí phía trên, có độ hút ẩm tương ứng.
Kỹ thuật nổi (h.5): thùng chứa có độ sâu khoảng 20 - 30 cm, được lót mặt trong với tấm kính polyethylen màu đen và dinh dưỡng. Cây trồng được thiết lập trong những túi nhựa nhỏ được gắn lên trên những tấm styrofoam hoặc bất kỳ đĩa mỏng nào và cho phép nổi trên dung dịch dinh dưỡng đã được chứa đầy trong thùng chứa. Dung dịch này được sục khí liên tục.
Kỹ thuật mao dẫn (h.6): dưới phần đáy chậu có các lỗ nhỏ. Những chậu này được đặt trong thùng chứa dung dịch dinh dưỡng. Dung dịch dinh dưỡng ngấm vào giá thể bằng kỹ thuật mao dẫn.
Kỹ thuật túi treo (h.7): chiều dài túi khoảng 1 m, dạng hình trụ, màu trắng, bằng nhựa polyethylen mỏng, đã được xử lý qua tia UV. Túi này được làm đầy bằng xơ dừa đã được tiệt trùng. Túi có cấu tạo phần trên cùng gồm móc sắt để treo vào giàn, đồng thời tiếp xúc với ống dẫn dinh dưỡng. Dinh dưỡng sẽ thấm qua xơ dừa bằng kỹ thuật mao dẫn, ở phía đáy của túi có máng hứng dịch dinh dưỡng chảy ra từ túi nhựa.


Kỹ thuật túi (h.8): gồm các túi có chiều dài từ 1 - 1,5 m, bên trên màu trắng, bên dưới màu đen, bên trong chứa cơ chất. Những túi này có chiều cao 6 cm, chiều rộng 18 cm và được đặt trên mặt phẳng nằm ngang. Trên bề mặt có khoét các lỗ nhỏ để gieo hạt hoặc trồng cây con trên đó. Kỹ thuật này gồm có hai túi đặt song song nhau, ở giữa có ống dẫn môi trường dinh dưỡng. Từ các ống này có các ống nhỏ cung cấp môi trường dinh dưỡng cho các lỗ trồng cây con.
Kỹ thuật rãnh (h.9): đây là hệ thống mở (không tuần hoàn). Cây trồng sẽ được trồng trong các khe chứa giá thể, khe này có độ sâu khoảng 30 cm. Giữa các khe chứa giá thể là một khe nhỏ cho đường ống cung cấp môi trường dinh dưỡng. Các ống này sẽ cho dinh dưỡng vào những vị trí có cây trồng. Dinh dưỡng sẽ thấm qua giá thể và giữa mặt đáy của khe chứa giá thể.
Kỹ thuật chậu (h.10): cũng tương tự như kỹ thuật rãnh. Ở đây môi trường làm giá thể được đựng trong các chậu nhựa có lỗ ở đáy. Có một đường ống lớn cung cấp dinh dưỡng, từ các ống này có các ống nhỏ cung cấp dinh dưỡng cho từng chậu.
nguồn: khoahocphothong.com.vn

5 loại rau phun nhiều thuốc nhất

Dưới đây là danh sách những thực phẩm "ngậm" nhiều thuốc nhất, các chị em nên tham khảo và chọn lựa rau sạch cho gia đình.

5 loại rau phun nhiều thuốc nhất

Theo thống kê gần đây, hàng năm có hơn một nghìn người ngộ độc thực phẩm tại nước ta. Có hàng trăm nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó, các loại rau quả với dư lượng hóa chất vượt mức cho phép là tác nhân ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng. Ở mức độ nhẹ, nó gây ngộ độc thực phẩm, nặng sẽ ảnh hưởng đến quá trình hô hấp, gây đột biến và phát sinh các căn bệnh ung thư.Vì vậy, việc nhận biết rau an toàn bằng cảm quan hết sức quan trọng. Thông thường, trên các loại rau nhiễm thuốc trừ sâu, nhiễm phân hóa học, bạn có thể nhìn thấy những hạt bụi nhỏ, ngửi thấy mùi vị khác thường. Dưới đây là 5 loại rau phun nhiều thuốc hóa học nhất.

Rau cải



Đây là loại rau thu hút nhiều sâu bọ khi trồng trên đất. Vì vậy, các chủ vườn thường tăng cường tưới thuốc trừ sâu, phân đạm cho rau vào khoảng thời gian trước khi thu hoạch. Điều này rất nguy hiểm vì khi đưa vào sử dụng, dư lượng phân bón, thuốc trừ sâu trong rau còn cao do không có đủ thời gian để phân hủy.
Khi bạn cầm trên tay bó cải non mơn mởn, lá xanh ngắt, không dấu vết của sâu bọ và phần thân chắc mập, đều tăm tắp một cách bất thường, đó chính là rau cải được bón nhiều phân đạm nitrat. Bạn không nên sử dụng loại cải này, nhất là ăn sống.

Mướp đắng



Khi mua, tốt nhất bạn nên tìm những quả mướp đắng nhỏ, dài, trên thân có nhiều sớ gân nhỏ li ti. Quả mướp đắng to, màu xanh đậm, mướt, thân phình nhưng sớ gân bóng loáng là những quả lạm dụng hóa chất làm tươi.

Đậu cô-ve



Những quả đậu cô-ve bóng, ít lông tơ, dài, đốt nào rõ đốt nấy là kết quả của việc lạm dụng phân bón lá. Nếu tất cả số đậu được bày bán đều không có vết sâu bọ, chứng tỏ đậu đã bị phun thuốc trừ sâu trước khi đưa ra tiêu thụ.

Giá đỗ



Cọng giá tròn lẳn, thân trắng phau, ít rễ thường hấp dẫn các bà nội trợ. Thế nhưng, đó là những cọng giá sản xuất từ một công nghệ vô cùng kinh dị.
Khi hạt đỗ nảy mầm, người sản xuất đã dùng phân bón lá trộn với các loại thuốc trừ sâu có pha loãng, tưới lên mầm giá rồi ủ kín lại. Loại thuốc này giúp giá đỗ nảy mầm và phát triển nhanh. Khi xào, giá sẽ tiết ra thứ nước đục ngầu.

Rau cần nước



Nếu bị phun quá nhiều thuốc trừ sâu và phân bón, thân rau sẽ to, ngó trắng phau bất thường. Để một ngày không nhúng nước, rau sẽ khô héo, thân tóp lại.

Lưu ý chung

Khi chế biến các loại rau có bẹ như cải, cải thảo... bạn nên cắt bỏ phần gốc, tách rời từng lá, nhặt bỏ lá sâu. Sau đó, bạn ngâm rau vào nước muối hoặc nước hòa thuốc tím khoảng 15 phút rồi rửa kỹ từng lá dưới vòi nước chảy vài lần trước khi đưa vào chế biến tiếp.
Phương pháp này tuy đơn giản nhưng có thể làm sạch phần lớn thuốc trừ sâu, phân bón bám trên rau, nhất là ở các kẽ lá. Ngoài ra, nó còn giúp làm sạch được trứng giun, sán và các chất bẩn bám trên rau.

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

Ứng dụng trồng nấm bào ngư trên bụi xơ dừa

Ở nước ta, nấm bào ngư chủ yếu mọc hoang dại và có nhiều tên gọi: nấm sò, nấm trắng (theo cách gọi miền Bắc), nấm dai (theo cách gọi miền Nam). Nấm bào ngư thuộc nhóm nấm dị dưỡng, sống hoại sinh, phá hoại gỗ và háo đường. Được trồng tại Việt Nam khoảng 20 năm nay, trên nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau, nấm bào ngư luôn phát triển tốt. Theo kết quả nghiên cứu từ ngành chức năng ở nhiều địa phương, nấm bào ngư trồng trên rơm rạ, bã mía, mạt cưa… đều đạt hiệu suất sinh học (nấm tươi trên trọng lượng nguyên liệu khô) cao.

trong-nam-bao-ngu-bang-xo-dua
Kỹ thuật trồng nấm bào ngư trên bụi xơ dừa được ứng dụng tại cù lao Tắc Cậu (xã An Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang) từ đầu năm 2006. Kỹ thuật này không chỉ góp phần giải quyết được tình trạng bụi xơ dừa gây ô nhiễm môi trường mà còn mang lại thu nhập đáng kể, cải thiện đời sống người dân. Mô hình trồng nấm bào ngư trên bụi xơ dừa đang được nhân rộng.
Nấm bào ngư là loài nấm dễ trồng, cho năng suất cao, phẩm chất ngon, có nhiều tính chất quí. Tính về thành phần dinh dưỡng, nấm bào ngư có nhiều chất đường cao hơn cả nấm rơm, nấm mỡ, nấm đông cô. Nấm bào ngư cũng không thua các loại nấm trên về hàm lượng đạm, chất khoáng. Xét về năng lượng, nấm bào ngư cung cấp năng lượng ở mức tối thiểu, thấp hơn nấm đông cô, tương đương với nấm rơm và nấm mỡ, rất thích hợp cho những người ăn kiêng. Ngoài ra, kết quả của các nhà nghiên cứu cho thấy trong nấm bào ngư có chất kháng sinh là Pleurotin, ức chế hoạt động của vi khuẩn gam dương. Nấm bào ngư còn chứa 2 polysaccharit có hoạt tính kháng ung bướu, đồng thời, nấm còn chứa nhiều acid folic, rất cần cho những người bị thiếu máu.
Tại Kiên Giang, sau một năm thử nghiệm, cho thấy nấm bào ngư được trồng trên bụi xơ dừa có kết quả tốt. Ngành Nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã sản xuất thử 1.000 bịch phôi, tập huấn cho 20 nông dân và tổ chức hội thảo nghiệm thu kết quả ứng dụng kỹ thuật trồng nấm bào ngư trên bụi xơ dừa tại 5 hộ nông dân. Bắt đầu từ bịch phôi, nông dân sẽ tiếp nhận quy trình kỹ thuật chăm sóc và tưới đón nấm. Trong thời gian này, nhiệt độ và độ ẩm không khí trong nhà trồng được giữ ổn định bằng cách tưới và phun liên tục (khoảng 4-6 lần/ngày). Thời gian thu hoạch từ 7-10 ngày/đợt, mỗi vụ thu hoạch từ 3-4 đợt. Theo dõi các chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật, nếu áp dụng thực hiện tốt khâu kỹ thuật, năng suất và sản lượng thu hoạch sẽ cho hiệu quả kinh tế cao.
Trong quá trình ứng dụng kỹ thuật trồng nấm bào ngư trên bụi xơ dừa tại huyện Châu Thành, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ tỉnh trực tiếp hướng dẫn quy trình kỹ thuật cho nông dân. Tuy nhiên, do lần đầu tiếp nhận quy trình kỹ thuật mới, nông dân còn xem nhẹ một số công đoạn như hấp thanh trùng, đóng bọc, cấy meo,… nên tỷ lệ nhiễm nấm tạp còn cao. Trong 1.000 bịch phôi, có 828 bịch cho ra nấm với tổng lượng thu 124 kg, năng suất trung bình 150g nấm/bịch. Hộ ông Nguyễn Văn Khỏe và Huỳnh Đức Tài có năng suất cao nhất là 175-200g nấm/bịch phôi. Thấp nhất là hộ ông Lâm Văn Danh, chỉ thu được 30g nấm/bịch. Cá biệt, có khoảng 10% bịch phôi tại 2 hộ Huỳnh Đức Tài và Nguyễn Văn Khoẻ cho năng suất cao khoảng 250-300g nấm/bịch.
Chu trình sống của nấm bào ngư cũng giống như các loài nấm khác, bắt đầu từ đảm bào tử hữu tính, nẩy mầm cho hệ sợi tơ dinh dưỡng và cuối cùng là tai nấm; tai nấm sinh ra các đảm bào tử và chu trình lại tiếp tục. Quả thể nấm bào ngư phát triển qua nhiều giai đoạn. Dựa vào hình dạng tai nấm mà có tên gọi cho từng giai đoạn: dạng san hô, dạng dùi trống, dạng phễu, dạng bán cầu lệch, dạng lá lục bình. Từ giai đoạn phễu sang bán cầu lệch có sự thay đổi về chất, còn từ giai đoạn bán cầu lệch sang dạng lá có sự tăng vọt về lượng. Vì vậy, thu hái nấm bào ngư cần chọn lúc tai nấm vừa chuyển sang dạng lá.
Ngoài yếu tố dinh dưỡng thì môi trường ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm như nhiệt độ, độ ẩm, độ chiếu sáng, độ thông thoáng… Do có hệ thống enzym thủy giải mạnh và đa dạng, nấm bào ngư có khả năng sử dụng nguồn hydratcarbon, nhất là cellulose. Nấm bào ngư là một trong số ít loài có khả năng sử dụng nguồn lignin, nhất là trong thời gian đầu của việc tạo quả thể nấm. Nấm có đặc điểm chung là tai nấm dạng phễu lệch, cuống tròn. Mặt dưới mũ nấm có nhiều phiến dẹp, xếp thẳng góc với thân, mang bào tử kéo dài xuống đến chân, cuống nấm gần gốc có lông nhỏ mịn. Các phiến này chính là phụ tầng của nấm. Mặt trên mũ nấm thường hơi lõm ở giữa, có màu sắc khác nhau tùy theo chủng loại nấm và tuổi của nấm. Tai nấm còn non có màu sắc sậm, hơi tối nhưng khi trưởng thành màu trở nên sáng hơn.
Kỹ sư trồng trọt Nguyễn Thị Thanh Vân, Trưởng phòng Nông-Lâm – Ngư nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, cho biết: Trồng nấm bào ngư trên bụi xơ dừa không chỉ góp phần giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường tại địa phương do bụi xơ dừa gây ra mà còn góp phần tăng thu nhập cho người dân từ việc tận dụng những khoảng đất trống bỏ hoang xung quanh nhà. Từ 1 bịch phôi (trọng lượng khoảng 1-1,2 kg) nếu được chăm sóc theo đúng quy trình có thể cho ra 250-300g sản phẩm nấm bào ngư”. Chi phí đầu tư cho 1kg nấm bào ngư từ 6-7 ngàn đồng. Sản phẩm nấm bán được từ 12-15 ngàn đồng/kg, người sản xuất có thể lãi 6-8 ngàn đồng/kg. Như vậy với 10.000 bịch phôi bụi xơ dừa có thể sản xuất ra 2.000 kg nấm bào ngư và cho lợi nhuận 12- 16 triệu đồng.
Việc nhân rộng quy trình sản xuất nấm bào ngư trên giá thể bụi xơ dừa ở huyện Châu Thành giúp tạo ra sản phẩm mới cho địa phương, cung cấp thêm nguồn thực phẩm có giá trị về dinh dưỡng. Mặt khác, với khả năng có thể phát triển và nhân rộng ra nhiều hộ nông dân trong thời gian tới, việc triển khai đề tài còn giúp tận dụng nguồn lao động lúc nông nhàn, tăng thêm thu nhập cho hộ gia đình từ việc sử dụng phụ phẩm trong nông nghiệp.